leftcenterrightdel
 Ảnh minh họa (Ảnh: TT)

Theo đó, Đề án nhằm hướng dẫn các địa phương quán triệt, nghiên cứu xây dựng kế hoạch, nội dung, chương trình các hoạt động đảm bảo quy mô, tần suất phù hợp, tránh tràn lan phô trương, lãng phí, đồng thời khích lệ đồng bào các dân tộc thiểu số bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa truyền thống trong quá trình hội nhập và phát triển đất nước; Giúp cơ quan quản lý nhà nước từ Trung ương đến địa phương đánh giá khách quan về thực trạng hoạt động văn hóa nghệ thuật, du lịch, thể dục thể thao quần chúng và đời sống văn hóa cơ sở trong từng giai đoạn, từ đó định hướng và xác định giải pháp khắc phục những yếu kém, thúc đẩy văn hóa nghệ thuật quần chúng phù hợp với đời sống xã hội của từng vùng, miền trên cả nước; Tiếp thu những tinh hoa văn hóa vùng đồng bào dân tộc thiểu số trong quá trình sáng tạo, giới thiệu, quảng bá, tôn vinh những giá trị văn hóa đặc sắc vùng đồng bào dân tộc thiểu số tới bạn bè trong nước và quốc tế góp phần tăng cường giao lưu, hội nhập gắn với phát triển du lịch.

Đây cũng là cơ sở để Bộ VHTTDL chỉ đạo, tổ chức Ngày hội mang tính thiết thực gắn với việc phục vụ nhiệm vụ chính trị của Đảng và Nhà nước diễn ra hàng năm trong thời gian từ năm 2021 đến năm 2030; giúp các nghệ nhân, nghệ sĩ, diễn viên, vận động viên vùng đồng bào dân tộc thiểu số giao lưu văn hóa, học tập, trao đổi kinh nghiệm nhằm thắt chặt tình đoàn kết, gắn bó giữa các dân tộc, các địa phương trên cả nước xây dựng và phát triển đời sống văn hóa lành mạnh, tiến bộ.

Theo Đề án, các ngày hội và định kỳ tổ chức như sau: Định kỳ tổ chức 3 năm/lần gồm: Ngày hội văn hóa, thể thao và du lịch các dân tộc thiểu số theo vùng, miền (gồm Ngày hội VHTTDL các dân tộc vùng Tây Bắc; Ngày hội VHTTDL các dân tộc vùng Đông Bắc; Ngày hội VHTTDL các dân tộc miền Trung; Ngày hội VHTTDL các dân tộc vùng Tây Nguyên; Ngày hội VHTTDL các dân tộc vùng Nam Bộ). Định kỳ tổ chức 5 năm/lần gồm: Ngày hội văn hóa các dân tộc (gồm Ngày hội văn hóa dân tộc Chăm; Ngày hội văn hóa dân tộc Khmer Nam Bộ; Ngày hội văn hóa dân tộc Mường; Ngày hội văn hóa dân tộc Thái; Ngày hội văn hóa dân tộc Mông; Ngày hội văn hóa dân tộc Dao; Ngày hội văn hóa dân tộc Sán Chay; Ngày hội văn hóa dân tộc Bru-Vân Kiều). Ngày Văn hóa các dân tộc Việt Nam (ngày 19/4) thực hiện theo Quyết định số 1668/QĐTTg ngày 17/11/2008 của Thủ tướng Chính phủ; Quyết định số 5248/QĐ-BVHTDL ngày 17/12/2008 của Bộ trưởng Bộ VHTTDL. Định kỳ tổ chức 5 năm/lần: Ngày hội văn hóa các dân tộc có số dân dưới 10.000 người.Định kỳ tổ chức 5 năm/lần. gồm: Ngày hội, giao lưu văn hóa, thể thao và du lịch các tỉnh vùng biên giới (gồm Ngày hội, giao lưu văn hóa, thể thao và du lịch vùng biên giới Việt Nam - Lào; Ngày hội, giao lưu văn hóa, thể thao và du lịch vùng biên giới Việt Nam-Campuchia). Định kỳ tổ chức 5 năm/lần gồm: Ngày hội, giao lưu, liên hoan văn hóa nghệ thuật tiêu biểu (gồm Liên hoan nghệ thuật hát Then, đàn Tính của các dân tộc Tày - Nùng - Thái; Liên hoan trình diễn trang phục (truyền thống, cách tân) của các dân tộc thiểu số Việt Nam; Ngày hội trình diễn cây Nêu; Liên hoan dân ca các dân tộc thiểu số Việt Nam.

Đề án cũng đưa ra Khung nội dung các hoạt động trong khuôn khổ Ngày hội, Quy trình tổ chức, Khung quy chế tổ chức, cơ cấu giải thưởng và chấm giải; các giải pháp để thực hiện và kinh phí thực hiện các ngày hội, giao lưu văn hóa.../.

Theo Dangcongsan.vn