Trong phòng, chống tham nhũng, trách nhiệm giải trình được xem là một yếu tố cấu thành không thể thiếu khi đề cập đến việc công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan, tổ chức, đơn vị. Khái niệm trách nhiệm giải trình phải được nhìn nhận trên hai khía cạnh. Một là, nghĩa vụ cung cấp thông tin, giải thích, trả lời một cách công khai, minh bạch gắn liền với việc thực hiện trách nhiệm và chịu trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân người có chức vụ quyền hạn. Hai là, phương thức để kiểm soát quyền lực, nhằm góp phần dự báo hành vi và có thể xác định trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân người có chức vụ quyền hạn. 

Vai trò của trách nhiệm giải trình trong phòng, chống tham nhũng

Thứ nhất, trách nhiệm giải trình giúp nâng cao tính công khai, minh bạch đối với các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong quá trình thực hiện nhiệm vụ.

Thứ hai, trách nhiệm giải trình giúp cho người dân thực hiện việc giám sát hoạt động của bộ máy nhà nước. Thực hiện việc giải trình sẽ tạo ra kênh thông tin giúp Nhân dân giám sát hoạt động của bộ máy nhà nước. Bên cạnh đó, việc thực hiện trách nhiệm giải trình còn giúp nhân dân nhận thức được vai trò của mình trong việc tham gia vào việc hoạch định các chính sách của cơ quan nhà nước, thực hiện quyền tham gia quản lý nhà nước và xã hội của công dân.

Thứ ba, thực hiện trách nhiệm giải trình trong phòng, chống tham nhũng giúp đẩy lùi nguy cơ tham nhũng. Trách nhiệm giải trình sẽ tạo ra sự ràng buộc đối với những người có chức vụ, quyền hạn trong việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình theo quy định của pháp luật.

Thực trạng trách nhiệm giải trình trong phòng, chống tham nhũng

Ở nước ta, trách nhiệm giải trình trong phòng, chống tham nhũng được quán triệt, thể hiện trong nhiều văn bản khác nhau, trên cả hai bình diện: Trách nhiệm giải trình của cán bộ, công chức, người có trách nhiệm trong thực thi nhiệm vụ, công vụ và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

Trách nhiệm giải trình của cán bộ, công chức, người có trách nhiệm trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ cũng đã được đề cập đến trong nhiều văn bản của Đảng và pháp luật của Nhà nước như Nghị quyết Trung ương 3 (Khóa X) về “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí” đặt ra yêu cầu: “Thực hiện nghiêm các quy định về công khai, minh bạch; bổ sung quy định bảo đảm minh bạch quá trình ra quyết định, bao gồm cả chính sách, văn bản quy phạm pháp luật và quyết định giải quyết một vụ việc cụ thể của cơ quan nhà nước các cấp...”

Về trách nhiệm của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, Điều 32a Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2005 (được sửa đổi, bổ sung năm 2007, 2012) quy định: “Khi có yêu cầu, cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải giải trình về quyết định, hành vi của mình trong  việc  thực  hiện nhiệm vụ, quyền hạn được giao trước cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền, lợi ích hợp pháp bị tác động trực tiếp bởi quyết định, hành vi đó”; Điều 46b quy định về nghĩa vụ giải trình nguồn gốc tài sản tăng thêm. Đồng thời, Luật quy định việc giao Chính phủ quy định chi tiết về trách nhiệm của cơ quan có nghĩa vụ giải trình; trình tự, thủ tục của việc giải trình; quy định mức giá trị tài sản tăng thêm và việc xác định giá trị tài sản tăng thêm, thẩm quyền yêu cầu giải trình, trách nhiệm của người giải trình, trình tự, thủ tục của việc giải trình.

Về đối tượng giải trình: Nghị định 90/2013/NĐ-CP ngày 08/8/2013 quy định đối tượng giải trình gồm các cơ quan có trách nhiệm thực hiện việc giải trình bao gồm các cơ quan hành chính nhà nước, các đơn vị sự nghiệp công lập thuộc cơ quan hành chính nhà nước và người có thẩm quyền trong việc thực hiện trách nhiệm giải trình.

Việc giải trình phải bảo đảm nguyên tắc công khai, minh bạch, đầy đủ, kịp thời và đúng thẩm quyền, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của Nhà nước, tổ chức, cá nhân.

Về trình tự, thủ tục thực hiện việc giải trình: Việc tiếp nhận yêu cầu giải trình được thực hiện như sau: (i) Tiếp nhận và vào sổ tiếp nhận yêu cầu giải trình; (ii) Hướng dẫn người yêu cầu giải trình thực hiện đúng hình thức yêu cầu giải trình trong trường hợp chưa đáp ứng theo quy định; (iii) Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày tiếp nhận yêu cầu, người giải trình phải thông báo cho người yêu cầu về việc tiếp nhận hoặc từ chối và nêu rõ lý do. Trường hợp yêu cầu giải trình không thuộc trách nhiệm thì hướng dẫn người yêu cầu gửi đến đúng cơ quan có trách nhiệm giải trình. Trường hợp nội dung yêu cầu đã được giải trình nhưng có người khác yêu cầu giải trình thì cung cấp bản sao văn bản đã giải trình cho người đó; (iv) Lưu giữ hồ sơ các yêu cầu giải trình đã được tiếp nhận theo quy định của pháp luật về văn thư lưu trữ.

Các bước thực hiện giải trình gồm:

Đối với những yêu cầu giải trình trực tiếp có nội dung đơn giản, người giải trình có thể thực hiện giải trình trực tiếp và người yêu cầu giải trình ký hoặc điểm chỉ xác nhận vào biên bản thực hiện việc giải trình.

 Đối với những yêu cầu giải trình khác, người giải trình phải thực hiện như sau: (i) Nghiên cứu nội dung yêu cầu giải trình; (ii) Thu thập, xác minh thông tin có liên quan; (iii) Làm việc trực tiếp với người yêu cầu giải trình để làm rõ những nội dung có liên quan khi thấy cần thiết. Nội dung làm việc được lập thành biên bản có chữ ký của các bên; (iv) Ban hành văn bản giải trình với các nội dung sau đây: Tên, địa chỉ người yêu cầu giải trình; nội dung yêu cầu giải trình; kết quả làm việc trực tiếp với tổ chức, cá nhân (nếu có); các căn cứ pháp lý để giải trình; nội dung giải trình cụ thể theo từng yêu cầu; (v) Gửi văn bản giải trình đến người yêu cầu giải trình. Trong trường hợp cần thiết thì công bố công khai văn bản giải trình theo quy định của pháp luật. Ngoài ra, pháp luật cũng quy định về việc bảo đảm thực hiện giải trình tại Điều 16 đến Điều 20 Nghị định 90/2013/NĐ-CP.

Về nội dung không thuộc trách nhiệm giải trình: Theo quy định tại Điều 5 Nghị định 90/2013/NĐ-CP thì những nội dung không thuộc trách nhiệm giải trình bao gồm: Nội dung thông tin liên quan đến bí mật Nhà nước; Những nội dung liên quan đến việc chỉ đạo, tổ chức thực hiện nhiệm vụ, công vụ trong nội bộ cơ quan nhà nước; trong chỉ đạo điều hành của cơ quan hành chính cấp trên với cơ quan hành chính cấp dưới; Nội dung thông tin thuộc bí mật đời tư; Nội dung thông tin thuộc bí mật kinh doanh; Các nội dung đã được giải trình hoặc đã được cơ quan có thẩm quyền thụ lý giải quyết; Các yêu cầu giải trình sau 90 ngày, kể từ ngày cơ quan, tổ chức, cá nhân nhận được hoặc biết được quyết định, hành vi của cơ quan nhà nước tác động trực tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp của mình.      

Về quyền và nghĩa vụ của người yêu cầu giải trình và người giải trình:

Người yêu cầu giải trình có quyền và nghĩa vụ tự mình hoặc ủy quyền cho người khác có năng lực hành vi dân sự đầy đủ thực hiện yêu cầu giải trình; được rút một phần hoặc toàn bộ yêu cầu giải trình; được nhận văn bản giải trình của cơ quan có trách nhiệm giải trình; thực hiện các trình tự, thủ tục yêu cầu về giải trình, trình bày rõ ràng, trung thực, có căn cứ yêu cầu về nội dung giải trình; cung cấp thông tin tài liệu có liên quan đến yêu cầu giải trình.

Đối với người giải trình có quyền yêu cầu người yêu cầu giải trình thực hiện đúng thủ tục, trình tự, bổ sung hoặc đính chính các thông tin trong văn bản giải trình nhằm làm rõ, chính xác và đầy đủ hơn nội dung giải trình, từ chối giải trình trong trường hợp người yêu cầu giải trình có hành vi gây rối trật tự, xúc phạm danh dự nhân phẩm hoặc người yêu cầu giải trình đang trong tình trạng không kiểm soát được do dùng rượu, bia hoặc chất kích thích khác.

Tại Điều 11, Nghị định 90/2013/NĐ-CP, yêu cầu giải trình được thực hiện bằng văn bản hoặc trực tiếp tại cơ quan nhà nước có trách nhiệm giải trình. Thời hạn thực hiện việc giải trình không quá 15 ngày kể từ ngày ra thông báo tiếp nhận yêu cầu giải trình. Trường hợp có nội dung phức tạp thì có thể gia hạn thời gian giải trình với thời gian không quá 15 ngày kể từ ngày gia hạn và phải thông báo bằng văn bản đến người yêu cầu giải trình.

Kết quả trong công tác giải trình

Các cơ quan nhà nước đã ngày càng công khai thông tin liên quan đến tình hình kinh tế - xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của người dân với nhiều phương thức khác nhau. Thông qua việc công khai thông tin, thực hiện quyền của mình khi được bàn bạc một số nội dung như: Các khoản đóng góp, xây dựng trường học, trạm xá, đường, điện, cầu, cống, xây dựng cơ sở hạ tầng... Ngoài ra, nhân dân còn được phổ biến kinh nghiệm làm kinh tế, tiếp cận các chương trình hỗ trợ vay vốn, xóa đói, giảm nghèo, giúp đỡ các hộ khó khăn phát triển kinh tế gia đình, vươn lên làm giàu chính đáng.

Các cơ quan nhà nước đã công bố các thủ tục hành chính liên quan đến việc cung cấp các dịch vụ công cho người dân và doanh nghiệp một cách nhanh chóng, thuận tiện, đặc biệt trong các lĩnh vực liên quan đến giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, giấy chứng nhận đầu tư, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy phép xây dựng, tiếp nhận và giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo... Đồng thời, thực hiện việc công khai theo quy định các thông tin, tài liệu, hồ sơ mình giữ nhằm bảo đảm tốt việc tiếp cận thông tin của người dân, làm tăng tính hiệu quả, minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước.

Về giải trình nguồn gốc tài sản đối với cán bộ, công chức: Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2007 và 2012) đã góp phần tạo lập khuôn khổ pháp lý cho công tác minh bạch tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức với việc xác định rõ các đối tượng và nội dung kê khai tài sản, thu nhập. 

Bên cạnh những kết quả trên, việc giải trình trong phòng, chống tham nhũng vẫn còn bộc lộ một số hạn chế, bất cập như: Một số quy định pháp luật về trách nhiệm giải trình trong phòng, chống tham nhũng còn chưa cụ thể. Về đối tượng có trách nhiệm giải trình, trong khi Khoản 1 Điều 32a của Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2007, 2012) quy định về trách nhiệm giải trình của các cơ quan nhà nước thì đối tượng điều chỉnh của Nghị định số 90/2013/NĐ-CP hẹp hơn. Việc này đã làm ảnh hưởng đến việc triển khai các quy định của Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2007, 2012) về vấn đề này trên thực tế. Ngoài ra, việc minh bạch tài sản, thu nhập hiện nay vẫn còn nhiều bất cập, hình thức, thiếu hiệu quả trong công tác xác minh và xử lý những vi phạm trong kê khai tài sản, thu nhập.

Những hạn chế nêu trên xuất phát từ các nguyên nhân khác nhau. Bên cạnh nguyên nhân từ một số quy định pháp luật thì còn có các nguyên nhân khác như: Một số người[H1]  dân chưa ý thức được đầy đủ về trách nhiệm và quyền yêu cầu giải trình của mình, do đó, chưa có tính chủ động trong việc nắm bắt thông tin thông qua cơ chế giải trình[H2] ; chưa phát huy hết được vai trò giám sát theo quy định đối với hoạt động của bộ máy nhà nước. Bên cạnh đó, còn do ý thức của một bộ phận cán bộ, công chức chưa thực hiện nghiêm chỉnh quy định về giải trình trong hoạt động công vụ, nhiệm vụ được giao.

Một số giải pháp tăng cường trách nhiệm giải trình trong phòng, chống tham nhũng

Một là, mở rộng thêm đối tượng có trách nhiệm giải trình. Nghị định 90/2013/NĐ-CP chỉ quy định áp dụng đối với các cơ quan hành chính nhà nước và các đơn vị sự nghiệp công lập thuộc các cơ quan hành chính nhà nước. Tuy nhiên, để tăng trách nhiệm giải trình thì pháp luật phòng, chống tham nhũng cần mở rộng thêm đối tượng giải trình. Theo đó, tất cả các cơ quan nhà nước sử dụng ngân sách nhà nước đều phải chịu trách nhiệm giải trình nhằm công khai, minh bạch và tăng cường sự giám sát của nhân dân đối với bộ máy nhà nước. Điều này làm cho các cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân sử dụng ngân sách nhà nước có trách nhiệm hơn trong việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình, giảm nguy cơ tham nhũng.

Hai là, bổ sung quy định về xử lý vi phạm trách nhiệm giải trình. Một trong những nguyên nhân làm cho hoạt động giải trình trong phòng, chống tham nhũng không đạt được hiệu quả là do thiếu các quy định xử lý vi phạm trong việc giải trình, đặc biệt liên quan đến việc giải trình tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức một cách hợp lý. Vì vậy, pháp luật về phòng, chống tham nhũng cần bổ sung quy định cụ thể về việc xử lý vi phạm đối với hành vi vi phạm về trách nhiệm giải trình.

Ba là, quy định về sự phối hợp giữa các cơ quan, tổ chức, đơn vị trong việc thực hiện trách nhiệm giải trình. Trách nhiệm giải trình yêu cầu các cơ quan trong bộ máy nhà nước cần có sự phối hợp với nhau để làm rõ các nội dung cần giải trình theo quy định của pháp luật, các nội dung giải trình cần được minh bạch và công khai.

Bốn là, tăng cường sự tham gia của nhân dân để thực hiện giám sát việc thực hiện trách nhiệm giải trình của cơ quan, tổ chức, cá nhân có nghĩa vụ giải trình theo quy định của pháp luật. Pháp luật cần quy định cụ thể việc tiếp cận thông tin của công dân trong phòng, chống tham nhũng để người dân thực hiện quyền giám sát việc thực hiện trách nhiệm giải trình ngày càng thực chất hơn./. 

Ths. Nguyễn Thị Dung

Viện Nghiên cứu lập pháp

 

Tài liệu tham khảo:

1. Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2007, 2012);

2. Thanh tra Chính phủ - Hồ sơ dự án Luật Phòng, chống tham nhũng (sửa đổi) trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến tại phiên họp thứ 24;

3. Nghị định 90/2013/NĐ-CP của Chính phủ ngày 08/8/2013 quy định trách nhiệm giải trình của cơ quan Nhà nước trong việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được giao;

4.  Báo cáo số 330/BC-CP của Chính phủ ngày 22/9/2016 về tổng kết 10 năm thực hiện Luật Phòng, chống tham nhũng;

5. Ths. Trần Văn Long, Thanh tra Chính phủ, Hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm giải trình trong phòng, chống tham nhũng. Truy nhập trang web ngày 14/4/2018 http://tcdcpl.moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/xay-dung-phap-luat.aspx?ItemID=263;

6. Trần Quyết Thắng, Hoàng Thị Thuý Vân, Đại học Nội vụ Hà Nội, Trách nhiệm giải trình của chính quyền địa phương ở Việt Nam hiện nay. Truy nhập trang web ngày 14/4/2018; http://tcdcpl.moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/xay-dung-phap-luat.aspx?ItemID=172;

7. Dương Thị Bình, Đỗ Thị Huệ, Vụ Pháp luật Hình sự - Hành chính, Trách nhiệm giải trình của cơ quan hành chính nhà nước. Truy nhập trang web ngày 14/4/2018http://tcdcpl.moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/xay-dung-phap-luat.aspx?ItemID=151;

8. TS. Lê Tiến Hào - Phó Tổng Thanh tra Chính phủ, Nâng cao trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước, góp phần phòng, chống tham nhũng, lãng phí. Truy nhập trang web ngày 14/4/2018 (http://noichinh.vn/nghien-cuu-trao-doi/201309/nang-cao-trach-nhiem-giai-trinh-cua-co-quan-nha-nuoc-gop-phan-phong-chong-tham-nhung-lang-phi-292423/).