Bài viết sau đây tập trung vào bước (i) Phân tích quá trình rà soát thể chế pháp luật Việt Nam theo một số nội dung quy định tại Chương II Công ước: Phòng ngừa tham nhũng, cụ thể là 02 chế định: Cơ quan phòng ngừa tham nhũng và mua sắm công và quản lý tài chính công.

1.     Cơ quan phòng ngừa tham nhũng

a)     Đảm bảo sự tồn tại của một hoặc một số cơ quan phòng ngừa tham nhũng

Tại Việt Nam, nhiệm vụ phòng ngừa tham nhũng được giao cho nhiều cơ quan Nhà nước khác nhau. Điều 96 Hiến pháp 2013 quy định: Chính phủ có nhiệm vụ “tổ chức công tác thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo, phòng, chống quan liêu, tham nhũng trong bộ máy Nhà nước”. Khoản 11 Điều 34 Luật Tổ chức Chính phủ 2015 quy định bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang bộ có nhiệm vụ “quyết định biện pháp tổ chức phòng, chống tham nhũng (PCTN), thực hành tiết kiệm, chống lãng phí…”.

Điều 83 Luật PCTN 2018 quy định: Trong Thanh tra Chính phủ, Bộ Công an, Viện kiểm sát nhân dân tối cao có đơn vị chuyên trách về chống tham nhũng”. Trên thực tế, cơ quan thanh tra, kiểm toán Nhà nước, điều tra, viện kiểm sát, tòa án có trách nhiệm trao đổi thường xuyên thông tin, tài liệu, kinh nghiệm về công tác PCTN; chuyển hồ sơ vụ việc tham nhũng cho cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xử lý; tổng hợp, đánh giá, dự báo tình hình tham nhũng và kiến nghị chính sách, giải pháp PCTN. Việt Nam không thành lập cơ quan chuyên trách về chống tham nhũng. Ở Trung ương, Ban Chỉ đạo Trung ương về PCTN được thành lập trực thuộc Bộ Chính trị do đồng chí Tổng Bí thư làm Trưởng ban để đảm bảo sự thống nhất lãnh đạo, chỉ đạo của Trung ương Đảng đối với toàn bộ hệ thống chính trị trong PCTN. Tổ chức, hoạt động của Ban Chỉ đạo được quy định trong văn kiện của Đảng, không quy định trong Luật. Những nội dung này hoàn toàn phù hợp với quy định của Hiến pháp và nguyên tắc Đảng không làm thay chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan trong bộ máy Nhà nước. Như vậy, có thể nói pháp luật Việt Nam đã đáp ứng được yêu cầu này của Công ước.

leftcenterrightdel
Ảnh minh họa (nguồn Internet)

b)     Về tính độc lập của các cơ quan phòng ngừa tham nhũng

Yêu cầu này của Công ước mang tính bắt buộc. Để đảm bảo hoạt động cho các cơ quan thanh tra Nhà nước, Luật Thanh tra năm 2010 quy định các nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể cho cơ quan thanh tra Nhà nước, thủ trưởng cơ quan thanh tra Nhà nước tại các Điều 15, 16, 18, 19, 21, 22, 24, 25, 27, 28, 30; đồng thời, trao nhiều nhiệm vụ, quyền hạn cho người ra quyết định thanh tra, trưởng đoàn thanh tra, thành viên đoàn thanh tra tại các Điều 43, 46, 47, 48, 53, 54, 55. Theo đó, các cơ quan thanh tra, các đoàn thanh tra và trưởng đoàn thanh tra có những quyền hạn độc lập nhất định trong hoạt động thanh tra và không bị chi phối bởi sự can thiệp trái pháp luật của bất kỳ tổ chức, cá nhân nào. Về thanh tra viên, Luật Thanh tra quy định thanh tra viên phải là những người có đủ tiêu chuẩn, được đào tạo về chuyên môn nghiệp vụ, có phẩm chất và được tuyển chọn, bổ nhiệm theo một quy trình chặt chẽ.

Đối với cơ quan kiểm toán Nhà nước (KTNN), Luật KTNN 2015 quy định địa vị pháp lý của KTNN là cơ quan chuyên môn về lĩnh vực kiểm tra tài chính Nhà nước do Quốc hội thành lập, hoạt động độc lập và chỉ tuân theo pháp luật. Cụ thể hóa nguyên tắc này, Luật KTNN đã có các quy định cụ thể về nhiệm vụ, quyền hạn của KTNN, Tổng KTNN, kiểm toán viên và hoạt động kiểm toán.

Như vậy, về cơ bản pháp luật Việt Nam đã đáp ứng được yêu cầu này của Công ước.

2. Mua sắm công và quản lý tài chính công

a. Về thực hiện các hoạt động cần thiết để xây dựng được các cơ chế mua sắm phù hợp dựa trên sự minh bạch, cạnh tranh và tiêu chí khách quan trong khâu ra quyết định, giúp phòng ngừa tham nhũng hiệu quả.

Việt Nam đã ban hành nhiều quy định pháp luật nhằm xây dựng, hoàn thiện cơ chế mua sắm công minh bạch, cạnh tranh và tiêu chí khách quan tại Luật Đấu thầu 2013, Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí 2013, Luật PCTN và các văn bản pháp luật khác có liên quan. Các nội dung cơ bản của các quy định này là: Công khai về các thông tin trong hoạt động đấu thầu; các biện pháp đảm bảo cạnh tranh trong đấu thầu; các hành vi tiêu cực bị nghiêm cấm trong đấu thầu; các điều kiện rõ ràng đối với chủ thể tham gia hoạt động đấu thầu; trình tự thực hiện hoạt động đấu thầu minh bạch, chặt chẽ.

Pháp luật Việt Nam đã có quy định về vấn đề thông báo công khai thủ tục mua sắm và hợp đồng mua sắm. Theo Luật Đấu thầu và Luật PCTN, các thông tin sau phải công khai: văn bản quy phạm pháp luật về đấu thầu (trong đó có quy định về thủ tục mua sắm); kế hoạch đấu thầu (nội dung bao gồm các thông tin cụ thể về từng gói thầu: Tên gói thầu; giá gói thầu; nguồn vốn, hình thức lựa chọn nhà thầu, phương thức đấu thầu, thời gian lựa chọn nhà thầu, hình thức hợp đồng, thời gian thực hiện hợp đồng); thông báo mời thầu, mời sơ tuyển, kết quả sơ tuyển.

Những vấn đề về điều kiện tham gia thầu, bao gồm tiêu chuẩn chọn và trao thầu đã được quy định tại Luật Đấu thầu. Cụ thể, Điều 5 Luật Đấu thầu 2013 quy định tư cách hợp lệ của nhà thầu, nhà đầu tư. Điều 6 về nguyên tắc bảo đảm cạnh tranh trong đấu thầu quy định điều kiện độc lập về pháp lý và độc lập về tài chính áp dụng bắt buộc đối với các chủ thể trong quan hệ đấu thầu như: Nhà thầu nộp hồ sơ; nhà thầu tham dự thầu, nhà thầu tư vấn giám sát, nhà đầu tư tham dự thầu. Các chủ thể này cũng bị cấm thực hiện các hành vi quy định tại Điều 89.

Pháp luật đấu thầu quy định rõ về các hình thức lựa chọn nhà thầu (Điều 20 về đấu thầu rộng rãi, Điều 21 về đấu thầu hạn chế, Điều 22 về chỉnh định thầu, Điều 24 về mua sắm trực tiếp, Điều 23 về chào hàng cạnh tranh, Điều 25 về tự thực hiện, Điều 26 về lựa chọn nhà thầu trong trường hợp đặc biệt). Đây là những tiêu chuẩn, quy định có tác dụng điều chỉnh và là căn cứ pháp lý cho các quyết định trong mua sắm

b. Về áp dụng các biện pháp thích hợp nhằm tăng cường binh bạch và trách nhiệm giải trình trong quản lý tài chính công.

Pháp luật Việt Nam quy định tương đối đầy đủ, chi tiết về cơ chế quản lý tài chính công, trong đó nhấn mạnh yếu tố minh bạch và trách nhiệm giải trình tại các văn bản như: Luật Ngân sách Nhà nước 2015 và các văn bản hướng dẫn thi hành, Luật Kế toán năm 2015 và hệ thống các văn bản hướng dẫn được Chính phủ và Bộ Tài chính ban hành

(i) Thủ tục thông qua ngân sách quốc gia:

Vấn đề này được quy định tại các văn bản: Luật Ngân sách Nhà nước; Nghị quyết 343/2017/NQ-UBTVQH14 ngày 19/1/2017 quy định về lập, thẩm tra, quyết định kế hoạch tài chính 05 năm quốc gia, kế hoạch đầu tư công trung hạn 05 năm quốc gia, kế hoạch tài chính – ngân sách Nhà nước 03 năm quốc gia, dự toán ngân sách Nhà nước, phương án phân bổ ngân sách trung ương và phê chuẩn quyết toán ngân sách Nhà nước hàng năm do Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành; Nghị định 163/2016/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Ngân sách Nhà nước (Nghị định 163/2016/NĐ-CP); Nghị định 31/2017/NĐ-CP của Chính phủ ban hành quy chế lập, thẩm tra, quyết định kế hoạch tài chính 05 năm địa phương, kế hoạch đầu tư công trung hạn 05 năm địa phương, kế hoạch tài chính – ngân sách Nhà nước 03 năm địa phương, dự toán và phân bổ ngân sách địa phương, phê chuẩn quyết toán ngân sách địa phương hàng năm; Thông tư 346/2016/TT-BTC của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện Nghị định 163/2016/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Ngân sách Nhà nước (Thông tư 346/2016/TT-BTC). Các văn bản này đã quy định đầy đủ, chi tiết về nguyên tắc, thẩm quyền, trình tự, thủ tục thông qua ngân sách của từng cấp với các hoạt động xây dựng dự toán, phân bổ và quyết toán ngân sách.

(ii) Báo cáo kịp thời về thu và chi.

Vấn đề báo cáo kịp thời về thu, chi ngân sách quốc gia đã được hệ thống hóa trong các văn bản như: Luật Ngân sách Nhà nước 2015, Nghị định 163/2016/NĐ-CP, Thông tư 346/2016/TT-BTC. Theo đó, các khoản thu, chi ngân sách Nhà nước phải được hạch toán kế toán, quyết toán đầy đủ, kịp thời, đúng chế độ. Các tổ chức, cá nhân có nhiệm vụ thu, chi ngân sách Nhà nước phải tổ chức hạch toán kế toán, báo cáo và quyết toán theo đúng chế độ kế toán của Nhà nước. Số liệu báo cáo quyết toán phải chính xác, trung thực, đầy đủ. Nội dung báo cáo quyết toán ngân sách phải theo đúng các nội dung ghi trong dự toán được giao. Thủ trưởng đơn vị sử dụng ngân sách phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính chính xác, trung thực, đầy đủ; chịu trách nhiệm về những khoản thu, chi, hạch toán, quyết toán ngân sách sai chế độ.

(iii) Cơ chế quản lý rủi ro và kiểm soát nội bộ có hiệu lực, hiệu quả và cơ chế quy định các tiêu chuẩn kế toán, kiểm toán và các cơ chế giám sát liên quan khác:

Vấn đề này được quy định tại Quyết định 192/2004/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Quy chế công khai tài chính đối với các cấp ngân sách Nhà nước, các đơn vị dự toán ngân sách, các tổ chức được ngân sách Nhà nước hỗ trợ, các dự án đầu tư xây dựng cơ bản có sử dụng vốn ngân sách Nhà nước, các doanh nghiệp Nhà nước, các quỹ có nguồn từ ngân sách Nhà nước và các quỹ có nguồn từ các khoản đóng góp của Nhân dân; Thông tư số 346/2016/TT-BTC. Cơ chế quản lý, kiểm soát nội bộ còn được thể hiện tại các văn bản như: Nghị quyết 55/1998/NQ-UBTVQH10 về việc ban hành quy chế thực hiện dân chủ trong hoạt động của cơ quan; Nghị định 04/2015/NĐ-CP về quy chế thực hiện dân chủ trong hoạt động của cơ quan hành chính Nhà nước và đơn vị sự nghiệp công lập…

Cơ chế quy định các tiêu chuẩn kế toán và kiểm toán đã được quy định tại Luật Ngân sách Nhà nước 2015, Luật Kế toán 2015. Theo đó Bộ Tài chính quy định chuẩn mực kế toán trên cơ sở chuẩn mực quốc tế về kế toán và theo quy định của Luật Kế toán. Các tổ chức, cá nhân có nhiệm vụ thu, chi ngân sách Nhà nước phải tổ chức hạch toán kế toán, báo cáo và quyết toán theo đúng chế độ kế toán của Nhà nước.

Về cơ chế kiểm toán: Luật Ngân sách Nhà nước 2015 và Luật Kiểm toán Nhà nước 2015 đã quy định về cơ chế kiểm toán, cơ quan kiểm toán. Cơ quan Kiểm toán Nhà nước thực hiện việc kiểm toán, xác định tính đúng đắn, hợp pháp của báo cáo quyết toán ngân sách Nhà nước các cấp, cơ quan, đơn vi có liên quan theo quy định của pháp luật. Đơn vị kế toán khi được kiểm toán phải tuân thủ đầy đủ các quy định của pháp luật về kiểm toán.

Về cơ chế giám sát của các cơ quan hành chính các cấp, Luật Ngân sách Nhà nước quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn trong giám sát, kiểm tra việc thực hiện pháp luật về ngân sách của các Ủy ban của Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ, Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và cơ quan khác ở trung ương, hội đồng nhân dân các cấp, ủy ban nhân dân các cấp, các đơn vị dự toán ngân sách.

Trong giám sát đầu tư, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 80/2005/QĐ-TTg về quy chế giám sát đầu tư của cộng đồng, góp phần đảm bảo hoạt động đầu tư phù hợp với các quy hoạch được duyệt, phù hợp với mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội và có hiệu quả kinh tế - xã hội cao; phát hiện, ngăn chặn để xử lý kịp thời các hoạt động đầu tư không đúng quy hoạch, sai quy định, các việc làm gây lãng phí, thất thoát vốn và tài sản Nhà nước, ảnh hưởng xấu đến chất lượng công trình, xâm hại lợi ích cộng đồng. Tuy nhiên, hiện nay văn bản này đã hết hiệu lực và chưa có văn bản thay thế.

(iv) Về thực hiện các biện pháp hành chính và dân sự thích hợp nhằm đảm bảo sự minh bạch của sổ sách kế toán, chứng từ, báo cáo tài chính hoặc các tài liệu khác liên quan đến thu, chi công và phòng ngừa hành vi giả mạo những tài liệu này.

Luật Kế toán 2015 đã quy định những biện pháp cần thiết nhằm bảo đảm sự minh bạch sổ sách kế toán, phòng ngừa giả mạo tài liệu kế toán. Theo đó, hoạt động kế toán phải phản ánh đầy đủ nghiệp vụ kinh tế, tài chính phát sinh vào chứng từ kế toán, sổ kế toán và báo cáo tài chính; việc ghi chép, phản ánh phải trung thực, rõ ràng, dễ hiểu và chính xác về thông tin và số liệu kế toán; thông tin, số liệu kế toán phải có tính kế thừa của các kỳ kế toán và phải được phản ánh liên tục từ khi phát sinh đến khi kết thúc hoạt động kinh tế, tài chính, từ khi thành lập đến khi chấm dứt hoạt động của đơn vị kế toán. Các hành vi bị nghiêm cấm bao gồm: Giả mạo, khai man, thỏa thuận hoặc ép buộc người khác giả mạo, khai man, tẩy xóa tài liệu kế toán; cố ý, thỏa thuận hoặc ép buộc người khác cung cấp, xác nhận thông tin, số liệu kế toán sai sự thật.

Luật Ngân sách Nhà nước 2015 cũng có những quy định có tác dụng phòng ngừa các vi phạm về sổ sách, chứng từ kế toán và giả mạo chứng từ, như: Kế toán và quyết toán ngân sách Nhà nước được thực hiện thống nhất theo chế độ kế toán của Nhà nước và Mục lục ngân sách Nhà nước. Chứng từ thu, chi ngân sách Nhà nước được phát hành, sử dụng và quản lý theo quy định của Bộ Tài chính. Trong trường hợp có những hành vi vi phạm về sổ sách kế toán, chứng từ và báo cáo tài chính thì những hành vi này sẽ bị xử lý về hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự khi xét thấy hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực kế toán có dấu hiệu tội phạm. Những chế tài xử lý các hành vi này được quy định tại Nghị định 41/2018/NĐ-CP của Chính phủ về quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực kế toán, kiểm toán độc lập./.

Đinh Lương Minh Anh